152 du khách Việt nghi bỏ trốn tại Đài Loan sẽ bị xử lý ra sao?


Liên quan đến vụ việc 152 du khách Việt Nam nghi bỏ trốn tại Đài Loan, theo luật sư Nguyễn Anh Thơm (Trưởng VPLS Nguyễn Anh, Đoàn LSTP Hà Nội), sự việc này là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước, làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập cảnh. Mặt khác, hành vi này còn làm ảnh hưởng đến hình ảnh và đất nước con người Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế.

Luật sư Thơm thông tin, chính sách nới lỏng visa đặc biệt được xúc tiến vào năm 2015 của Chính phủ Đài Loan đối với khách du lịch đến từ Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Ấn Độ và Brunei. Lợi dụng điều này một số đối tượng đã tổ chức đưa người lao động với hình thức khách du lịch đến Đài Loan để trốn ở lại lao động trái phép.

152 du khách Việt nghi bỏ trốn tại Đài Loan sẽ bị xử lý ra sao? - Ảnh 1.

Hình ảnh về đoàn 152 du khách người Việt tại Đài Loan.

Để có căn cứ xử lý hành vi đưa 152 người lao động trái phép sang Đài Loan, các cơ quan chức năng cần điều tra làm rõ có hay không việc cấu kết giữa các đối tượng trong nước nước ngoài để đưa người lao động dưới vỏ bọc “khách đi du lịch” trốn ở lại lao động bất hợp pháp.

Hành vi đưa người sang nước ngoài không đúng các quy định của Nhà nước là hành vi tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép có dấu hiệu phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 349 BLHS 2015 (Bảng phụ lục).

Còn đối với những “khách du lịch” bỏ trốn tại Đài Loan sẽ phải chịu hình thức xử lý theo pháp luật Đài Loan về vi phạm nhập cảnh. Hình thức xử phạt có thể trục xuất, cấm nhập cảnh. Nếu thực hiện hành vi phạm tội còn phải chịu trách nhiệm xử lý hình sự theo luật pháp nước sở tại.

Điều 349. Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép

1. Người nào tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 120 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với từ 05 người đến 10 người;

d) Có tính chất chuyên nghiệp;

đ) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Đối với 11 người trở lên;

b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;

c) Làm chết người.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Bài viết khác Xem thêm